ĐỜN CA TÀI TỬ


Hơn trăm năm trước, từ cội nguồn nhạc lễ, nhạc cung đình Huế và văn học dân gian đã sinh ra nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ. Gia sản dòng nhạc tài tử Nam bộ ngày càng đồ sộ, phong phú biểu đạt được tâm lý, tình cảm và đời sống của dân cư đồng bằng sông Cửu Long.
Loại hình âm nhạc này thường trình diễn ở những gia đình yêu thích đờn ca tài tử, đám cướI, đám giỗ, sinh nhật, lễ hộI các đình thần, sau khi thu hoạch mùa vụ … Nhìn chung, đờn ca tài tử có thể trình diễn bất cứ ở đâu và bất kỳ thờI điểm nào. Tuy nhiên, nếu được trình diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng thì dễ tạo nên sự đồng điệu giữa người chơi và người thưởng thức âm nhạc truyền thống.
Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục. Họ chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn; Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc tham gia diễn trên sân khấu họ mới lưu ý chưng diện, trang phục cho phù hợp. Những năm gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành các câu lạc bộ đờn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Họ sẵn sàng phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu. Bình thường họ vẫn làm ăn, sinh sống như bao người bình thường khác.
Hiện nay ở Vĩnh Long có hàng trăm đội, nhóm, câu lạc bộ đờn ca tài tử. Trong đó, phải kể đến nhóm Bông Hồng Vàng, nhóm Trường An, câu lạc bộ Du lịch Cửu Long, câu lạc bộ Trung tâm Văn hóa Thông tin Vĩnh Long … Thỉnh thỏang các nhóm tham gia hội thi, hội diễn trong, ngòai tỉnh. Ngày thường họ vẫn đang cần mẫn tập luyện, trình diễn cho những người tri kỷ, tri âm cùng bè bạn gần xa thưởng thức.
Đờn ca tài tử Nam bộ trên đất Vĩnh Long vừa là món ăn tinh thần thường nhật của người dân bản địa, vừa là đặc sản địa phương thiết đãi du khách có dịp viếng thăm quê hương Vĩnh Long.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG


1) Đất và người

Sau 16 năm chung sức xây dựng quê hương Cửu Long, đến tháng 5 năm 1992, Vĩnh Long được tái lập gồm 08 huyện, thị xã với 107 xã, phường, thị trấn và 846 ấp, khóm.

Là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km, Vĩnh Long tiếp giáp các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Đồng Tháp và thành phố Cần Thơ; với dân số trên 01 triệu người gồm các dân tộc Kinh,  Khmer và Hoa cùng làm ăn và sinh sống trên diện tích 1.487 km2.

Long Hồ dinh – vùng đất ” địa linh nhân kiệt ” – đã sản sinh ra những người con ưu tú cho đất nước, trong đó có cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, nguyên Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt và Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa.

 Nằm giữa sông Tiền, sông Hậu với hệ thống sông rạch thuận tiện và có 05 Quốc lộ, trong đó Quốc lộ I A về miền Tây đã được nâng cấp, cầu Mỹ Thuận cũng đã nối liền Tiền Giang với Vĩnh Long và các tỉnh phía bắc sông Tiền, sắp tới cầu Cần Thơ sẽ đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi để Vĩnh Long phát triển nhanh và vững chắc.

 Khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ, nên Vĩnh Long thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc sản như bưởi Năm roi, cam, quýt, nhãn, xoài, chôm chôm, sầu riêng và các loại thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh, cá tra.

Vĩnh Long còn được biết đến với nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng như gạch, ngói, gốm, thêu dan, dệt chiếu…mà sản phẩm đã có mặt tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những thị trường khó tính. Chương trình du lịch “ đi trong màu xanh đồng bằng “ mang nét độc đáo của vùng sông nước và sinh thái miệt vườn, chắc chắn sẽ mạng lại những điều lý thú và bổ ích đối với du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan vùng đất  “chín rồng “ này.

Là một tỉnh thuộc địa bàn khuyến khích đầu tư và còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, nguồn nhân lực dồi dào và tay nghề cao, có truyền thống đoàn kết, cần cù và sáng tạo trong lao động và sản xuất, Vĩnh Long sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến hợp tác sản xuất và kinh doanh, trên tinh thần các bên cùng có lợi. 

Cùng với cả nước, Vĩnh Long đã và đang nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh sẵn có, quyết tâm biến mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “ theo định hướng Xã hội chủ nghĩa thành hiện thực trên quê hương, đất nước ./.

2) Điều kiện tự nhiên:

Vị trí địa lý tỉnh Vĩnh Long       Vĩnh Long là Tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc vùng giữa sông Tiền – sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 136 km với tọa độ địa lý từ 9o 52′ 45″ đến 10o 19′ 50″ vĩ độ Bắc và từ 104o 41′ 25″ đến 106o 17′ 00″ kinh độ Đông. Vị trí giáp giới như sau :       – Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.       – Phía Tây và Tây Nam giáp Tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng.   

  – Phía Đông và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh.       

     – Phía Tây Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp. 

 Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế – khoa học kỹ thuật – văn hóa – quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai. Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Nóc…) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai.Với vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TPHCM và các khu công nghiệp miền đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TPHCM và hàng công nghiệp tiêu dùng từ TPHCM về các tỉnh miền tây. Mặt khác đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn. Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển KTXH theo các hướng trục giao thông thủy bộ đã được quy hoạch của tỉnh.Địa hình, địa mạo :Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, có cao trình khá thấp so với mực nước biển (cao trình < 1,0 m chiếm 62,85% diện tích). Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của Tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm Tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn. Trên từng cánh đồng có những chỗ gò (cao trình từ 1,2 – 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình < 0,4 m). Phân cấp địa hình của Tỉnh có thể chia ra 3 cấp như sau:

- Vùng có cao trình từ 1,2 – 2,0 m: 29.934,21 ha – chiếm 22,74%. Phân bố ven sông Hậu, sông Tiền, sông Mang Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao giữa sông và vùng đất giồng gò cao của Huyện Vũng Liêm, Trà Ôn. Nơi đây chính là địa bàn phân bố dân cư đô thị, các khu công nghiệp và dân cư nông thôn sống tập trung ven sông rạch lớn và trục giao thông chính, đầu mối giao thông thủy bộ; nông nghiệp chủ yếu cơ cấu lúa – màu và cây ăn quả.        

- Vùng có cao trình từ 0,8 -1,2m: 60.384,93 ha – chiếm 45,86%. Phân bố  chủ yếu là đất cây ăn quả, kết hợp khu dân cư và vùng đất cây hàng năm với cơ cấu chủ yếu lúa màu hoặc 2-3 vụ lúa có tưới động lực, tưới bổ sung trong canh tác, thường xuất hiện ở vùng ven Sông Tiền, Sông Hậu và sông rạch lớn của Tỉnh .

- Vùng có cao trình từ 0,4 – 0,8 m: 39.875,71 ha – chiếm 30,28%. Phân bố chủ yếu là đất 2-3 vụ lúa cao sản (chiếm 80% diện tích đất lúa) với tiềm năng tưới tự chảy khá lớn, năng suất cao; đất trồng cây lâu năm phải lên liếp, lập bờ bao mới đảm bảo sản xuất an toàn, trong đó vùng phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh hưởng lũ tháng 8 hàng năm, dân cư phân bố ít trên vùng đất này.         

- Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4 m: 1.481,15 ha – chiếm 1,12%  có địa hình thấp trũng, ngập sâu; cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu lúa 2 vụ (lúa ĐX-HT, lúa HT-Mùa) trong điều kiện quản lý nước khá tốt.    Vĩnh Long nằm trên trục quốc lộ 1A chạy ngang qua Tỉnh và quốc lộ 53, 54, 80 nối liền với Tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp và Quốc lộ 57 nối liền với Bến Tre. Cùng với mạng lưới sông rạch khá dầy, Vĩnh Long có ưu thế về điều kiện nước đối với nông nghiệp và là mạng lưới giao thông thủy, bộ thuận lợi nối liền Vĩnh Long với các Tỉnh ĐBSCL và cả nước. Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, Vĩnh Long có nền nông nghiệp phát triển và sản xuất được quanh năm, nông thôn khá trù phú, dân cư quần tụ đông đúc, kinh tế miệt vườn là truyền thống của Tỉnh. Khu công nghiệp của Tỉnh phân bố theo trục lộ giao thông chính như: khu công nghiệp Bắc cổ chiên, khu công nghiệp Bình Minh, khu công nghiệp Hòa Phú, khu sản xuất gạch ngói dọc theo đường Tỉnh 902… và ven sông Tiền với cảng Vĩnh Thái và khu sản xuất gạch ngói khá phát triển. Sông Mang Thít nối liền giữa sông Tiền – sông Hậu là trục giao thông thủy quan trọng của Tỉnh và ĐBSCL, đồng thời là vùng phát triển khu sản xuất công nghiệp mía đường. Ngoài ra trên địa bàn Tỉnh còn có sân bay quân sự  nhưng hiện nay khu vực sân bay này đang xuống cấp và bị lấn chiếm, tuy nhiên đây cũng là một trong những lợi thế nếu được đầu tư nâng cấp hình thành sân bay dân dụng sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của Tỉnh. Ưu thế về giao thông thủy bộ là nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh Vĩnh Long trong tương lai.

Do trong quá trình phát triển sản xuất với sự ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp như hệ thống đê bao, hệ thống kinh thủy lợi, hệ thống cống đập, kỹ thuật canh tác của từng đối tượng cây trồng nên hiện nay đang có sự thay đổi cục bộ về cao trình. Hiện nay Chính Phủ đang giao Tổng Cục Địa Chính để khảo sát để xây dựng lại bản đồ địa hình vùng ĐBSCL nói chung và Tỉnh Vĩnh Long nói riêng theo mực nước biển gốc tại mũi Nai (Hà Tiên) .Vĩnh Long phân bố trọn trong vùng phù sa nước ngọt, trước đây là nơi được khai phá và phát triển sớm nhất ở ĐBSCL (khoảng trên 259 năm). Dân số năm 2001 là 1.020 triệu người, mật độ dân số khá cao 692 người/ km2 (so với ĐBSCL là 401 người/km2 và cả nước là 236 người/km2). 

Thời tiết – khí  hậu :

Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào.      

* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 – 28oC, so với thời kỳ trước năm 1996 nhiệt độ trung bình cả năm có cao hơn khoảng 0,5-1oC. Nhiệt độ tối cao 36,9oC; nhiệt độ tối thấp 17,7oC. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7-8oC.

* Bức xạ: Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ. Bức xạ quang hợp/năm 795.600 kcal/m2. Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.181 – 2.676 giờ/năm. Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ.           

* Ẩm độ: ẩm độ không khí bình quân 74 – 83%, trong đó năm 1998 có ẩm độ bình quân thấp nhất 74,7%; ẩm độ không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng 10 giá trị đạt trung bình 86 – 87% và những tháng thấp nhất là tháng 3 ẩm độ trung bình 75-79%.

* Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của Tỉnh khá lớn, khoảng 1.400-1.500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/ tháng vào mùa khô là 116-179 mm/tháng.       

* Lượng mưa và sự phân bố mưa: Lượng mưa bình quân qua các năm từ 1995 đến 2001 có sự chênh lệch khá lớn. Tổng lượng mưa bình quân cao nhất trong năm là 1.893,1 mm/năm (năm 2000) và thấp nhất 1.237,6 mm/năm điều này cho thấy có sự thay đổi thất thường về thời tiết. Do đó ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi các đặc trưng của đất đai cũng như điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, lượng mưa năm của tỉnh phân bố tập trung vào tháng 5-11 dl, chủ yếu vào tháng 8-10 dl.

Ở Vĩnh Long so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, yếu tố khí hậu cơ bản qua các năm khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ. Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung vào mùa mưa cùng với lũ tạo nên những khu vực bị ngập úng ở phía bắc Quốc lộ 1A và những nơi có địa hình thấp trũng làm hạn chế và gây thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường khu vực.

Mặt khác Vĩnh Long là vùng có truyền thống đất học với nhiều danh nhân trí thức cùng  với sự hình thành đô thị sớm nhất trong vùng và ngày nay là nơi tập trung của các viện trường của Trung Ương và Tỉnh: Đại học dân lập Cửu Long, Trường cao đẳng cộng đồng, Trường xây dựng Miền Tây, Trường sư phạm kỹ thuật …         Toàn Tỉnh có 6 huyện và 1 thị xã với 107 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên 147.519 ha (có quy mô nhỏ nhất so với các tỉnh ĐBSCL).  

 

3) Lịch sử văn hoá:

Tỉnh Vĩnh Long nằm ở vĩ tuyến từ 905240’’ đến 1001948’’ vĩ bắc, kinh tuyến 10504118’’ đến 10601703’’ kinh đông. Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh sông chính của sông Cửu Long: sông Tiền và sông Hậu. Nhìn bao quát, tỉnh Vĩnh Long như một hình thoi nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long (đường chéo đông sang tây 65 km, đường chéo bắc nam 51 km), phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía đông giáp tỉnh Bến Tre và đông nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây giáp tỉnh Cần Thơ, phía tây bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.

Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về phía bắc theo quốc lộ I, phía nam cách thành phố Cần Thơ 33 km theo quốc lộ I.

Vĩnh Long không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần về phía bắc, đông bắc và nam đông nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kênh rạch. Sông Tiền và sông Hậu chảy ra biển Đông qua vùng đất Vĩnh Long nổi lên nhiều cù lao lớn nhỏ: cù lao An Bình, Bình Hòa Phước, Đồng Phú, Quới Thiện (sông Cổ Chiên), Lục Sỹ Thành (sông Hậu),…Đây là những vùng trồng cây ăn trái đặc sản trù phú, dân cư đông đúc, giàu có.

Hiện nay, Vĩnh Long được phân chia thành 8 đơn vị hành chánh: thị xã Vĩnh Long và và 07 huyện (Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Vũng Liêm, Bình Minh, Trà Ôn, Bình Tân); gồm có 107 đơn vị xã, phường, thị trấn và 846 khóm, ấp. Diện tích tự nhiên 148.737 ha (1.487,37km2), trong đó có 114.528 ha trồng lúa và cây ăn trái.

Trải qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Vĩnh Long nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chánh.

Về tên gọi:

Năm 1732, chúa đời thứ 7 thời Nguyễn là Nguyễn Phúc Trú (1696 – 1738) lập đơn vị hành chánh đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, dinh Long Hồ.

+ Năm 1779, đổi thành Hoằng Trấn dinh;

+ Từ năm 1780 – 1805, Vĩnh Trấn;

+ Từ 1806 – 1832, Trấn Vĩnh Thanh;

+ Từ 1832 – 1950, tỉnh Vĩnh Long;

+ Từ năm 1951 – 1954, tỉnh Vĩnh Trà;

+ Từ năm 1954 – 1975, tỉnh Vĩnh Long;

+ Từ năm 1976 – 5.1992, tỉnh Cửu Long;

+ Từ 5 – 5 – 1992 đến nay là tỉnh Vĩnh Long.

Thời chúa Nguyễn, Vĩnh Long bao gồm các phần đất tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh.

Trước 1948, huyện Chợ Lách (Bến Tre) thuộc tỉnh Vĩnh Long; sau đó giao cho Bến Tre; đến giai đọan 1957 – 1965, huyện Chợ Lách giao về cho tỉnh Vĩnh Long. Năm 1966, tách huyện Chợ Lách về tỉnh Bến Tre.

Trước năm 1948, hai huyện Cầu Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ; từ 1948 – 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long; Từ năm 1951 – 1954, thuộc tỉnh Vĩnh Trà; Từ năm 1954 – 1971, huyện Cầu Kè, huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ năm 1971 – 1975 huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Từ năm 1957 – 1974, các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, thị xã Sa Đéc (Sa Đéc) nhập vào Vĩnh Long.

Từ năm 1957 trở về trước huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long; Từ năm 1957 đến 1972 đến nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. 

4) Định hướng phát triển 2006 – 2010:

Phương hướng

 Huy động mọi nguồn lực, tập trung khi thác tiềm năng, lợi thế để có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, chất lượng cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá. Phát triển nền văn hóa tiên tiến, lành mạnh làm nền tảng tư tưởng xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tăng  cường quốc phòng, an ninh giữ vững ổn định chính trị, đẩu lùi các tệ nạn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Nhiệm vụ chung

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh hàng hóa, sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Lấp đầy các doanh gnhiệp trong các khu, tuyến công nghiệp, nâng cao năng lực và quy mô sản xuất, xác định ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh để đi lên và tạo ra những bước tiến nhảy vọt. Tăng cường xút tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng nhanh giá trị và hiệu quả trên một đơn vị diện tích sản xuất. Phát triển ngành nghề nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

  Tiếp tục xây dựng và nâng cấp hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin, cấp thoát nứơc. Tập trung nguồn lực cho phát triển đô thị, chậm nhất đến năm 2010 thị xã Vĩnh Long trở thành thành phố thuộc tỉnh ( đô thị loại III ), thị trấn Cái Vồn thành thị xã ( đô thị loại IV ) trung tâm thị xạ tân Quớithành thị trấn ( đô thị loại V ), chú trọng phát triển chợ và tuyến dân cư nông thôn.

  Giải quyết tốt các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, giảm nghèo, dân số – kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ bà mẹ trẻ em, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Tiếp tục xây dựng nâng cao chất lựong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng.

  Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, giải quyết kịp thời những khiếu nại tố cáo của công dân .

 Tiếp tục xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tin thần nghị quyết Trung ương 6 ( lần 2), khoá VIII. Nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng đảng viên, xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, khuyến khích làm giàu chính đáng. xây dựng cơ sở Đảng Trong sạch vững mạnh, giữ mối quan hệ chặt chẽ với nhâhn dân. đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đẩy mạnh công tác vận động hân dân. Phát huy vai trò Mặt trận, đoàn thể các cấp, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 Mục tiêu tổng quát

 Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết là công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, thúc đẩy nhanh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Phấn đấu đến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 930-950 USD/người, tổng sản phẩm trong tỉnh(GDP theo giá so sánh) trên địa bàn tỉnh tăng 1,8 lần so với năm 2005 và 2,6 lần so với năm 2000, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 14%. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Ứng dụng tốt khoa học công nghệ vào sản xuất, cải thiện một bước trình độ công nghệ trong nền kinh tế. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khai thác có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Phát triển văn hoá – xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân về mọi mặt, tiếp tục thực hiện giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm dần các tệ nạn xã hội. Phát triển và từng bước hoàn thiện dần kết cấu hạ tàng kinh tế – xã hội.

 Các chỉ tiêu chủ yếu

 1/-  Tăng cường kinh tế (GDP) bình quân hàng năm 14 % .

 2/-  Tổng giá trị sản xuất nông gnhiệp – thủy sản tăng bình quân hàng năm 6,5%, trong đó nâng nghiệp tăng 5,8%.

 3/-  Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 26%

 4/ Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm 16%

 5/-  Cơ cấu GDP đến năm 2010: nông nghiệp – thủy sản 38% , công nghiệp – xây dựng 25 % và dịch vụ là 37%

 6/-  Tỷ lệ huy động ngân sách so với GDP 12,5 % – 13%/năm

 7/-  Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm 0,025% , để đến năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ổn định 1%

 8/-  Giảm tỷ lệ hộ nghèo để đến năm 2010 còn 6%

 9/-  Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 930-950 USD.

 10/-   Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi đến năm 2010 còn 15%

 11/-  Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật đạt 35% vào năm 2010

 12/-  Giải quyết việc làn hàng năm 27.000 lao động

 13/- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nứớc sạch phổ thông đạt 98% vào năm 2010, trong đó 75% từ nguồn cấp nước tập trung

(Nguồn: Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Long).

HOI DONG HUONG TINH VINH LONG


HOI DONG HUONG TINH VINH LONG

Hello world!


Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.